ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH /
Huyện Đồng VănSức sống đâm chồi nơi biên cương
Nằm ở cực Bắc của tổ quốc Đồng Văn là một huyện vùng cao thuộc tỉnh Hà Giang có tổng diện tích tự nhiên 44.6km2, dân số trên 57.000 người, gồm 17 dân tộc anh em cùng sinh sống. Mặc dù có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên khá phức tạp, song Đồng Văn lại có nhiều cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn, là điểm đến lý tưởng cho du kháchư a khám phá.
Đồng Văn - hợp cảnh của thiên nhiên
Vượt qua quãng đường dài đến Đồng Văn vào một buổi sáng đẹp trời, khí hậu mát mẻ, ngay khi mới chớm bước chân vào huyện, các bạn sẽ bắt gặp một địa danh gắn liền với tên tuổi anh hùng dân tộc Sùng Dũng Lù. Đó là khu rừng nguyên sinh Vần Chải với những thân cây cổ thụ mọc chen giữa các tảng đá lớn, con đường đi xuyên qua rừng được xếp bằng những khối đá lớn theo kiểu bậc thang dẫn lên đỉnh núi. Đứng lừ trên đỉnh núi phóng tầm mắt nhìn ra xung quanh mới thấy vẻ đẹp thiên nhiên ban tặng cho Đồng Văn độc đáo đến nhường nào: một thung lũng khá bằng phẳng, một khu rừng xanh tốt và không xa là một bản nhỏ của người Mông, trong đó có một khu nhà vẫn mang nguyên dáng dấp cổ kính.
Theo quốc lộ 4C vượt qua dốc Chín Khoanh, rẽ trái là tới ngay thị trấn Phó Bảng. Đây là một thị trấn nhỏ bé, xinh đẹp nằm giữa một vùng đá mênh mông, có cửa khẩu Tả Pha và cách đó khoảng 500 m là hang động Nguyệt tuyệt đẹp. Trên đường đến Đồng Văn, các bạn hãy rẽ vào thăm hang Rồng (Sảng Tùng) và thăm khu di tích Nhà Vương thuộc xã Sà Phìn. Ngược quãng đường hơn 20 km là đến địa danh Lũng Cú. Trên đỉnh núi Rồng, lá cờ đỏ sao vàng trên cột cờ Lũng Cú tung bay kiêu hãnh giữa bầu trời biên cương khẳng định chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc Ngoài ra, Đồng Văn còn có hang Mây ở xã Tả Lủng với những nhũ đá muôn sắc muôn màu tựa như những tác phẩm toàn bích của thiên nhiên ban tặng cho vùng đất cao nguyên đầy thơ mộng.
Đồng Văn trong phát triển kinh tế xã hội
Được sự quan tâm, đầu tư của Đảng, Nhà nước cũng như sự nỗ lực của nhân dân các dân tộc, huyện Đồng Văn đã tạo được những bước tiến khá nhanh trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Nếu như năm 1996, tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện đạt 8,71% thì đến năm 2003 đã lăng lên 9,83%. Cơ cấu kinh tế cũng từng bước chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp và tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ.
Riêng năm 2003, huyện tiếp tục đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ. Trong sản xuất nông nghiệp, huyện đã đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với tình hình thực tế của từng địa phương. Đồng thời tích cực thâm canh để tăng năng suất cây trồng, mở các lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật và triển khai thực hiện các mô hình làm kinh tế cho bà con nông dân. Nhờ đó, sản lượng lương thực đạt gần 17.000 tấn (tăng 9% so với năm 1999), đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn. Chăn nuôi phát triển mạnh cả số lượng lẫn chủng loại gia súc, gia cầm do Nhà nước có nhiều chính sách đầu tư, cho nhân dân vay vốn để phát triển sản xuất.

Tổng đàn gia súc hiện có 41.306 con, tăng 11.988 con so với năm 1999. Về lâm nghiệp, đi đôi với công tác trồng mới hàng năm, huyện còn đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân chăm sóc và bảo vệ rừng, mở các lớp tập huấn phòng cháy chữa cháy rừng thu hút đông đảo nhân dân tham gia. Qua đó đã nâng độ che phủ của rừng từ 14,8% năm 1999 lên 15,9% năm 2003.
Bên cạnh đó, huyện cũng tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ trung nông thôn như: điện, đường, trường, trạm, thông tin tuyên truyền, thuỷ lợi, trụ sở UBND xã... bằng các nguồn vốn thuộc chương trình 135, 186, chương trình 661, HPM và các nguồn vốn khác. Đến nay, 100% số xã trong huyện có đường ô tô đến trung tâm, 100% trạm y tế xã được xây dựng (trong đó 10/19 xã xây 2 tầng) và tất cả các xã đều có trường học 2 tầng. Nhiều chương trình kinh tế khác của trung ương cũng như của tỉnh đã được huyện thực hiện có hiệu quả. Đời sống của đồng bào các dân tộc từng bước được ổn định, nhiều thôn bản đồng bào đã tích cực hưởng ứng chương trình định canh định cư, giảm dần và tiến tới xoá bỏ tình trạng đốt rừng làm nương rẫy. Tỷ lệ hộ nghèo từ 54,6% năm 1999 đã giảm xuống còn 21,9% năm 2003. Các lĩnh vực xã hội như giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá thông tin . . . đã có tiến bộ rõ rệt, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của nhân dân.
Phát huy kết quả đã đạt được, trong những năm tiếp theo, mục tiêu hàng đầu của huyện Đồng Văn là ổn định và phát triển kinh tế - xã hội , trong đó phát triển mạnh kinh tế hàng hoá gắn với sản xuất nông nghiệp, nông thôn. Với những tiềm năng, lợi thế của địa phương cộng với sự nỗ lực của toàn dân, phấn đấu đến năm 2005, Đồng Văn đạt tổng sản lượng lương thực 19.000 tấn, GDP bình quân đầu người tăng gấp đôi so với năm 2000, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm từ 10 - 11%, trong đó nông lâm nghiệp tăng 6 - 7% công nghiệp - xây dựng tăng 14 -16% và thương mại, dịch vụ tăng 12 - 14%. Trên cơ sở đó giảm tỷ lệ hộ đói nghèo xuống còn 15%, từng bước đưa Đồng Văn tiến kịp các huyện miền xuôi.
(Theo sách Hà Giang thành tựu trong công cuộc đổi mới - Báo Đối ngoại Việt Nam 2004)