ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH /
Huyện Quản BạTrên đà phát triển
Quản Bạ là huyện vùng cao cách trung tâm tỉnh Hà Giang 47 km, có 3 xã giáp biên giới Việt Trung. Ớ độ cao trung bình trên 1.000m so với mực nước biển, địa hình nơi đây bị chia cắt, sông suối dày đặc núi đá cao xen lẫn vực sâu, dân cư phân tán. Khí hậu được chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô.

Được thành lập trong giai đoạn chiến tranh khốc liệt của đất nước - năm 1963, từ xuất phát điểm kinh tế rất thấp 14 dân tộc anh em trên vùng cao Quản Bạ đã đoàn kết xây dựng huyện phát triển về mọi mặt.
Nhờ tập trung khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh và nguồn lực, đẩy mạnh phát triển kinh tế, nhất là kinh tế nông nghiệp, du lịch và dịch vụ theo hướng chuyển dịch cơ cấu hợp lý, năm 2003, tỷ trọng nông lâm nghiệp trong cơ cấu kinh tế của Quản Bạ chiếm 55,69%, công nghiệp - xây dựng - tiểu thủ công nghiệp chiếm 20% và du lịch dịch vụ là 24,31%. Phong trào xoá đói giảm nghèo đã phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao thu nhập và ổn định đời sống cho bà con trong huyện. Giờ đây, kinh tế của huyện đã phát triển an toàn và bền vững cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Hiện nay thế mạnh chính của Quản Bạ vẫn là nông nghiệp. Chính vì vậy, trong thời gian qua huyện đã chú trọng đến việc phát triển theo hướng mở rộng diện tích trồng trọt, thâm canh tăng vụ, tìm giống ngắn ngày có năng suất cao. Đến hết năm 2003, tổng diện tích gieo trồng toàn huyện đã tăng 27% so với năm 1997. Bình quân lương thực đầu người năm 2003 đạt 340kg, tăng 21 ,4% so với năm 1997. Mặc dù canh tác trong điều kiện còn nhiều khó khăn nhưng năm nào huyện cũng đạt 100% kế hoạch được giao. Từ nay đến năm 2005, Quản Bạ phấn đấu bình quân lương thực đầu người đạt 370kg/năm trở lên, thu nhập bình quân từ 3 - 3,5 triệu đồng/người/năm, cơ bản không còn hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn dưới 10%.
Nhằm tăng thu nhập cho bà con và thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây trồng, huyện còn tiến hành nghiên cứu đưa nhiều giống cây công nghiệp ngắn ngày như chè, lạc lanh... vào sản xuất; Chuyển đổi các vùng nương xấu sang trồng các loại cây công nghiệp cho năng suất cao hơn, tránh tình trạng đất bị bỏ hoang hoặc chưa khai thác hết tiềm năng. Nhiều cây công nghiệp ngắn ngày có diện tích lớn như cây chè năm 2003 là 120 ha với tổng sản lượng búp tươi lên tới 240 tấn, góp phần đem lại hiệu quả kinh tế cao. Chăn nuôi được phát triển theo hướng hàng hoá. Đến hết năm 2003 tổng đàn gia súc gia cầm đạt là 117.842 tăng 25,5% so với năm 1998 mục tiêu những năm tới đàn gia súc gia cầm đạt tốc độ tăng trưởng ổn định 5% mỗi năm. Đây cũng là một trong những nguồn thu chính của huyện không chỉ trước mắt mà còn
cả trong thời gian tới.
Cho đến nay, Quản Bạ đã thành lập được 22 hợp tác xã hoạt động theo luật mới với các sản phẩm rất đa dạng như đồ mộc, vải lanh hoa, vật liệu xây dựng... Sản phẩm của các hợp tác xã này không những cung cấp cho nhân dân trong vùng mà còn từng bước vươn ra thị trường bên ngoài. Thực hiện phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, Quản Bạ đã phát huy tối đa nội lực, đồng thời tranh thủ sự đầu tư của Trung ương và của tỉnh, đến nay nhiều công trình điện, đường, trường trạm, truyền thanh, truyền hình đã được xây dựng và đi vào hoạt động. 100% xã, thị trấn của huyện có đường tô vào tới trung tâm, 11/13 xã có điện lưới, 100% xã có trường học được xây dựng kiên cố 2 tầng. Tất cả đã và đang tạo tiền đề về cơ sở vật chất cho sự đi lên của huyện trong thời gian tới.
Do có nhiều dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn nên các vấn đề văn hoá được huyện đặc biệt quan tâm. Trình độ của mỗi dân tộc lại khác nhau nên vấn đề đầu tiên là cần phải tiến hành phổ cập giáo dục. Năm học 2003 - 2004, tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổi 6 - 14 đến trường là gần 98%. Các lớp xoá mù chữ, sau xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập trung học cơ sở được duy trì thường xuyên. Cơ sở vật chất, thiết bị dạy và học luôn được tăng cường, chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Đây là cơ sở để huyện luôn giữ vững tiêu chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ, tiến tới đạt chuẩn quốc gia về phổ cập THCS vào năm 2005.
Phát triển kinh tế xã hội trên cơ sỡ trân trọng và gìn giữ những giá trị truyền thống, huyện đã và đang tiến hành nhiều biện pháp nhằm giúp bà con các dân tộc lưu giữ được bản sắc văn hoá riêng, tiến hành tìm kiếm, sưu tầm và tái hiện các giá trị văn hoá mang tính đặc trưng của từng dân tộc trên địa bàn. Bên cạnh đó, huyện cũng cho xây dựng nhiều điểm văn hoá vừa để nâng cao trình độ dân trí cho bà con các dân tộc, vừa tuyên truyền đường lối chính sách để bà con hiểu và làm theo. Phong trào xây dựng làng bản, gia đình văn hoá được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân trong huyện đã góp phần đẩy lùi tệ nạn. hình thành nếp sống mới.
(Theo sách Hà Giang thành tựu trong công cuộc đổi mới - Báo Đối ngoại Việt Nam 2004)